Người dân miền núi Quảng Ngãi có thêm thu nhập nhờ nhận giao khoán, bảo vệ rừngQuảng Ngãi hiện có tổng diện tích tự nhiên gần 1,5 triệu ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp hơn 1,14 triệu ha; diện tích có rừng gần 887 nghìn ha (trong đó có khoảng 659 nghìn ha rừng tự nhiên); còn lại là diện tích chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp. Độ che phủ rừng là 59,45%.
Thực hiện Tiểu Dự án 1 của Dự án 3 về phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân thuộc Chương trình MTQG 1719, xã Đặng Thùy Trâm đã huy động người dân ở các thôn nhận khoán bảo vệ rừng cũng như hưởng lợi từ nguồn lâm sản phụ dưới tán rừng. Từ đó, đã có hàng chục hộ đồng bào DTTS trên địa bàn xã thoát nghèo nhờ tham gia vào Tiểu Dự án này.
Năm 2021, anh Phạm Văn Hái cùng 36 thành viên ở khu dân cư Gò Già, thôn Kon Dóc đã nhận khoán bảo vệ hơn 620ha rừng phòng hộ. Nhờ chính sách nhận hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, anh Hái cùng các thành viên ở Gò Già có nguồn thu nhập khá.
Theo anh Hái, không chỉ nhận được tiền khoán bảo vệ rừng, anh và các thành viên còn có thêm thu nhập từ việc thu hoạch cây mây, mật ong, dược liệu... dưới tán rừng. “Bình quân mỗi ngày, tôi kiếm được từ 300 nghìn đồng đến 1 triệu đồng nhờ việc khai thác cây mây rừng. Nhờ rừng mà gia đình tôi không còn khó khăn như trước, cuộc sống ngày càng khấm khá hơn”, anh Hái nói.
Bà Nguyễn Thị Vân, Chủ tịch UBND xã Đặng Thùy Trâm cho biết: Dựa vào tiềm năng, lợi thế từ rừng và nguồn hỗ trợ từ giao khoán bảo vệ rừng của Chương trình MTQG 1719, nhiều hộ dân ở địa phương đã vươn lên thoát nghèo. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng của người dân, đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn.
Tại xã Ba Vinh, nhiều hộ dân cũng có thu nhập ổn định từ nhận giao khoán bảo vệ rừng và phát triển kinh tế dựa vào rừng. Điển hình như vợ chồng chị Đinh Thị Hiền, ở thôn Gò Nghênh. Ba năm trước, gia đình chị Hiền thuộc diện hộ nghèo. Vợ chồng trẻ mới ra ở riêng, lại nuôi con nhỏ nên không có vốn để làm kinh tế. Chính quyền địa phương đã hỗ trợ cho vợ chồng chị Hiền kết nối với Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay 50 triệu đồng để đầu tư trồng keo. Ngoài ra, vợ chồng chị Hiền cũng được tạo điều kiện tham gia vào tổ cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng để có thêm nguồn thu nhập.
“Nhờ trồng keo, kết hợp nuôi ong dưới tán keo và nhận giao khoán bảo vệ rừng nên hiện tại vợ chồng tôi có nguồn thu nhập ổn định. Có nguồn sinh kế bền vững, vợ chồng tôi mạnh dạn vay thêm tiền để xây dựng ngôi nhà mới khang trang”, chị Hiền phấn khởi chia sẻ.
Phát triển kinh tế gắn với rừng giúp nhiều hộ dân miền núi Quảng Ngãi vươn lên thoát nghèoỞ khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, có nhiều lợi thế từ tài nguyên rừng và hệ sinh thái đặc hữu. Luật Lâm nghiệp, Luật Đa dạng sinh học và các chính sách đầu tư đã mở ra hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế dưới tán rừng. Ngoài sâm Ngọc Linh, một số địa phương như Đăk Lây, Tu Mơ Rông đang phát triển các loại cây dược liệu dài ngày khác, đặc biệt là cây quế, ít tốn công chăm sóc nhưng giá trị kinh tế ổn định. Năm nay, dự kiến sẽ liên kết trồng khoảng 50ha quế tại xã Măng Ri để tạo thêm nguồn thu nhập cho bà con.
Bên cạnh dược liệu, người dân đang dần chuyển sang trồng các loại cây bản địa có giá trị như cây dổi lá to (bò ma) - vừa lấy gỗ, vừa lấy hạt, có thể khai thác sau 5–7 năm. Đây là hướng đi thay thế cây keo, bạch đàn vốn hiệu quả không cao và phụ thuộc lớn vào thị trường. Ngoài ra, mô hình trồng tre sinh khối cũng bước đầu cho kết quả tích cực. Các mô hình này cho thấy, nếu biết tận dụng lợi thế rừng, kết hợp giữa khai thác hợp lý và bảo vệ sinh thái, bà con hoàn toàn có thể tạo sinh kế ổn định, từng bước thoát nghèo và làm giàu bền vững.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Phước Hiền cho hay: Sau sáp nhập tỉnh, Quảng Ngãi trở thành tỉnh có lợi thế về rừng. Các sở, ngành, địa phương được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ phát triển rừng phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
“Địa phương đang định hướng phát huy tối đa lợi thế rừng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong đó tập trung vào cây dược liệu, cây lâm nghiệp và các sản phẩm đặc thù gắn với khí hậu vùng Trường Sơn. Đây không chỉ là hướng đi bền vững về kinh tế mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, tạo sinh kế ổn định cho đồng bào miền núi”, ông Hiền khẳng định.







